Base là gì trong vẽ

Thuật ngữ màu sắc hữu dụng cho dân thiết kế


*

*

Màu sắc là một trong những nguyên tố cơ bản hình thành nên mọi thiết kế và là một công cụ mạnh mẽ trong tay các chuyên gia về hình ảnh.

Màu sắc tác động đáng kể đến tâm trí của chúng ta. Nó thay đổi cách chúng ta cảm nhận về một vật thể chỉ trong vòng vài giây. Bên cạnh đó, nó còn khiến con người phản ứng hay thậm chí là thực hiện vài hành động nhất định.Trong bài viết này, chúng ta sẽ có cơ hội tìm hiểu những thuật ngữ hữu ích giúp cho việc làm chủ màu sắc trở nên dễ dàng hơn.

Bạn đang xem: Base là gì trong vẽ

1. Color Màu sắc


*

Tác giả:Miguel Á. Padriñán

Trước khi bắt đầu, bạn phải nắm được bản chất của màu sắc là gì. Theo trang từ điểnMerriam Websterđịnh nghĩa, màu sắc là sự phản chiếu của ánh sáng lên một vật thể (chẳng hạn như màu đỏ, nâu, hồng hoặc xám), là nhận thức về thị giác giúp con người có thể phân biệt giữa hai vật thể tương đồng. Nói một cách đơn giản, màu sắc là tính chất của vật thể; chúng ta nhận biết được màu sắc nhờ sự phản xạ ánh sáng từ các vật thể khác nhau. Màu sắc có thể được phân loại dựa vào các đặc tính nhưHue(Tông màu),Saturation(Độ bão hoà màu),Chromaticity(Độ kết tủa màu), vàValue(Giá trị màu). Để có được cái nhìn toàn vẹn về màu sắc, hãy cùng tìm hiểu những đặc tính của nó.

2. Thuộc tính của màu sắc

Hue Tông màu

Thuật ngữ Hue thường bị nhầm có ý nghĩa là Màu sắc, hôm nay chúng ta sẽ cùng làm rõ vấn đề này. Đầu tiên, chúng ta cần phải hiểu rõ rằng Color Màu Sắc là một thuật ngữ chung bao gồm các thuật ngữ con như Hue, Tint và Tone. Hue chính là thuộc tính giúp ta trả lời được câu hỏi Màu đó là màu gì vậy?. Về cơ bảnHue là tổ hợp 12 màu đậm nhạt khác nhau trên vòng tuần hoàn màu sắc (color wheel).

Hue đóng vai trò như một yếu tố căn bản trong màu sắc. Nó có thể được chuyển hoá thành ba dạng khác nhau:Tint(Sắc thái màu),Shade(Đổ bóng),Tone(Tông màu).

Rất dễ để phân biệt ba dạng trên.Tint thường được tạo ra bằng cáchhoà trộn Hue với màu trắng,Shadethì làhỗn hợp giữa Hue và màu đen. Còn quá trình hình thànhTone thì tinh tế hơn một chút, bởi vì nóđòi hỏi sự kết hợp của cả đen và trắng, đây cũng là lý do tại sao Tone trông có vẻ tự nhiên hơn so với Shade và Tint.


*

Nguồn ảnh: Premium Beat

Value Giá trị màu

Như đã nói ở trên, tất cả màu sắc đều có những đặc tính giúp phân biệt lẫn nhau.Valuelà một đặc tính giúp chúng ta biếtmức độ sáng tối của một màu.Valueđược định giá dựa vàocấp độ trắng của màu. Vì vậy nếutông màu càng trắng thì Value sẽ càng cao.

Chromaticity Độ kết tủa màu


Chromaticityhay còn gọi làChroma, cho chúng ta biết được độ tinh khiết của một tông màu. Đặc tính này sẽ được xác định dựa vàomức độ hiện diện của màu trắng, xám và đen trong một màu. 12 tông màu cơ bản được nhắc tới ở trên có mức Chroma cao nhất do không có lẫn thêm màu nào khác cả. Những màu với mức Chroma cao thường khá đậm và trông rất sống động.

Saturation Độ bão hoà màu

Đặc tính này khá giống vớiValuevàChroma, vì vậy thỉnh thoảng chúng thường hay bị nhầm lẫn với nhau. Tuy vậy, bạn cần phải nắm rõ được điểm khác nhau giữa chúng.Saturationkhông áp dụng khi bạn trộn lẫn Hue với các màu sắc khác nhau. Nó đơn giản chỉ là cách màu sắc được hiển thị dưới các điều kiện ánh sáng khác nhau.Saturationgiúp miêu tảmàu sắc đậm hay nhạt theo các cường độ ánh sáng mạnh nhẹ khác nhau. Giá trị này còn được gọi là cường độ màu sắc.


*

Ứng dụng Calendar của Tubik Studio

3.Color Wheel Vòng tuần hoàn màu sắc

Nếu bạn đã từng học thứ gì đó có liên quan ít nhiều tới hội hoạ, ắt hẳn bạn đã thấy bảng vòng tròn với nhiều màu sắc khác nhau. Nó được gọi là Vòng tuần hoàn màu sắc, nó giúp cho chúng ta hiểu được sự tương quan cũng như cách phối hợp các màu sắc với nhau. Vòng tuần hoàn màu thường đươc tạo nên bởi các màu sơ cấp, thứ cấp và tam cấp (còn được gọi là Hue Tông màu).

Vòng tuần hoàn màu sắc được tạo ra vào năm 1666 bởiIsaac Newtondưới dạng sơ đồ, từ đó tới nay nó đã được cải tiến và biến đổi qua nhiều dạng khác nhau, nhưng nhìn chung thì đây vẫn là công cụ chính yếu trong việc phối màu. Với vòng tròn thần thánh này, thì việc phối màu sao cho phù hợp không còn là vấn đề nan giải nữa.

Xem thêm: Theoretical Framework Là Gì, Khung Nghiên Cứu (Research Framework)


4. Các dạng màu sắc

Primary Colors Màu sơ cấp

Màu sơ cấp bao gồm bộ 3 màu cơ bản, không được tạo ra bởi sự pha trộn giữa các màu khác nhau. Bộ màu sơ cấp đóng vai trò như nền tảng của cả hệ thống màu. Bộ 3 màu căn bản này sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào hệ thống màu khác nhau.Mô hình màu bù trừ (subtractive color system CMY) sẽ bao gồmcyan (xanh da trời), magenta (hồng cánh sen), và yellow (vàng) trong khi đó Mô hình màu bổ sung(additive color system RGB)sẽ bao gồm red (đỏ), green (xanh lá) và blue (xanh dương). Ta còn có hệ thống màu RYB bao gồm red (đỏ), yellow (vàng) và blue (xanh dương).

Secondary Colors Màu thứ cấp

Màu thứ cấp là những màu được tạo ra nhờ vào sự kết hợp giữa 2 màu sơ cấp. Mỗi hệ thống sẽ có những màu sơ cấp khác nhau như đã đề cập ở trên, chính vì vậy hệ thống màu thứ cấp cũng rất đa dạng. Dưới đây là sơ đồ giới thiệu bảng màu thứ cấp trong mỗi hệ thống màu.


RGB:

xanh lá + đỏ = vàngđỏ + xanh dương = hồng cánh senxanh dương +xanh lá = xanh da trời

CMYK:

vàng + hồng cánh sen = đỏhồng cánh sen + xanh da trời =xanh dươngxanh da trời + vàng = xanh lá

RYB:

vàng + đỏ= camđỏ + xanh dương = tímxanh dương + vàng =xanh lá

Tertiary Colors Màu tam cấp


Sự phối hợp giữa màu sơ cấp và thứ cấp sẽ cho ra đời bảng màu tam cấp. Màu tam cấp sẽ được đặt tên dựa vào các màu tạo nên nó, ví dụ như: đỏ tím hoặc vàng cam.

Màu lạnh, màu nóng và màu trung tính

Tất cả những màu kể trên còn có thể được chia làm ba loại: lạnh, nóng và trung tính.

Màu lạnhlà những màu nằm về phía màu xanh lá xanh dương (green blue) trên vòng tuần hoàn màu sắc. Sở dĩ chúng có tên như vậy bởi vì những màu này mang lại cảm giác lạnh cho người xem. Ngược lại, gammàu nóngsẽ mang lại cảm giác ấm áp. Vàng, cam và đỏ là những tông màu chủ đạo của gam màu nóng. Cuối cùng, nhữngmàu trung tínhlà những màu không có trong vòng tuần hoàn màu sắc, bao gồm xám, nâu và vàng nâu(beige: người Việt còn hay gọi là màu be người dịch).


Ứng dụng Weather của Tubik Studio

5. Hệ thống màu


RGB

Hệ màu RGB (Red Green Blue) sử dụng đỏ, xanh dương và xanh lá làm màu cơ bản. Hệ màu này là nền tảng màu sắc cho các loại màn hình khác nhau. Nếu bạn kết hợp các màu cơ bản này với tỉ lệ cân bằng sẽ tạo ra được các màu cyan (xanh da trời), magenta (hồng cánh sen) và yellow (vàng) thêm vào đó, độ sáng càng cao thì màu của bạn sẽ sáng hơn và hơi nhạt đi. Nếu bạn trộn lẫn với mô hình màu bổ sung (additive), kết quả thu được sẽ tạo cảm giác phản trực quan với những người đã quen với mô hình màu bù trừ (subtractive) trong các màu sơn, màu nhuộm và các vật thể hữu hình khác.

RYB

RYB (Red Yellow Blue) còn được biết đến như một hệ thống màu thường được sử dụng trong giáo dục mỹ thuật, đặc biệt là trong hội hoạ. Hệ màu này được xem như là cội nguồn cho lý thuyết về khoa học màu sắc, trong đó chỉ ra rằng lục lam, đỏ tươi và vàng là bộ 3 màu hiệu quả nhất để phối với nhau. Đó cũng chính lý do tại sao ta có hệ màu CMY.

CMYK

Hệ màu CMY đã được sửa đổi và cải tiến với sự xuất hiện của công nghệ in quang cơ (photomechanical printing). Nó được bổ sung thêm một màu sắc chủ chốt là màu đen, cũng vì vậy mà hệ màu này được đổi tên thành CMYK (Cyan Magenta Yellow blacK). Nếu không có màu đen được thêm vào, những màu sắc gần với màu đen sẽ bị chuyển thành màu nâu bùn. Ngày nay, hệ màu này thường được sử dụng nhiều trong các mẫu thiết kế in.

6.Color Scheme Nguyên tắc phối màu

Sự cân bằng màu sắc là cực kỳ quan trọng trong thiết kế. Với một trang web, ấn tượng đầu tiên của người dùng sẽ rất sâu đậm, và màu sắc có ảnh hưởng lớn tới việc đó. Các nhà thiết kế thường phân biệt rõ ràng các cách phối màu căn bản, hay còn gọi là sự hoà hợp màu sắc và thứ này thật sự có hiệu quả đấy nhé.

Monochromatic Phối màu Đơn sắc

Phương pháp này thường sử dụng đúng 1 màu chủ đạo, kèm theo đó là các tone và shade của nó. Phương pháp phối Đơn sắc luôn là lựa chọn hàng đầu bởi vì tính hoàn thiện cũng như vẻ thẩm mỹ cao.